Các hoạt động kinh tế

Cập nhật: 22/08/2008 17:04
 
Các hoạt động kinh tế

     Ngư nghiệp ở đảo chủ yếu là các nghề lặn bào ngư và đánh cá ven bờ, ngoài ra còn bắt hải sâm. Trước năm 1988, cá song, cá mú có thể bắt bằng các hình thức câu, đánh lưới khoảng 40 - 50 tấn, bào ngư khai thác khoảng 30 - 40 tấn tươi mỗi năm. Nghề lặn bắt bào ngư vào vụ từ tháng 1 đến tháng 8.

 

Ngư nghiệp

Ngư nghiệp ở đảo chủ yếu là các nghề lặn bào ngư và đánh cá ven bờ, ngoài ra còn bắt hải sâm. Trước năm 1988, cá song, cá mú có thể bắt bằng các hình thức câu, đánh lưới khoảng 40 - 50 tấn, bào ngư khai thác khoảng 30 - 40 tấn tươi mỗi năm. Nghề lặn bắt bào ngư vào vụ từ tháng 1 đến tháng 8. Bào ngư là loại hải sản quí, có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao (1kg khô hiện nay giá khoảng 1.500.000 đ). Do khai thác quá mức, nguồn lợi bào ngư giảm hẳn, hiện chỉ phân bố ở độ sâu 3 - 5 m nước trở vào với mật độ không lớn. Từ năm 1999, nhờ Trung tâm Khuyến ngư (Bộ Thuỷ sản) cấp vốn, Tổng đội Thanh niên xung phong kết hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành nuôi thí điểm bào ngư bằng hình thức nuôi lồng với số lượng khoảng 10.000 con giống tại âu cảng .

Nghề cá của dân đảo chưa được tổ chức hợp lý, chưa đủ khả năng đóng thuyền lớn vươn khơi mà chỉ đánh bắt ven bờ, hiệu quả thấp. Phương tiện nghề cá của dân đảo còn hạn chế, chỉ 8 hộ có thuyền máy với 12 máy, tổng công suất 78 CV (mỗi máy từ 6 - 15 CV). Khoảng 20 hộ còn lại chỉ sắm được thuyền nan nhỏ đánh bắt hải sản sát ven đảo. Doanh thu hàng năm của các hộ làm nghề khai thác thuỷ sản ước tính 1440 triệu đồng (năm 2004), trong đó: câu mực khoảng 10 tấn, trị giá 380 triệu đồng; khai thác bào ngư khoảng 3 tấn, trị giá 900 triệu đồng và đánh cá 16 tấn trị giá khoảng 160 triệu đồng.

Nông lâm nghiệp

Do thiếu nước tưới, diện tích đất không nhiều, khả năng canh tác khó khăn, nên sản lượng nông nghiệp trên đảo chỉ giải quyết được một phần nhu cầu rau quả tại chỗ. Lương thực và thực phẩm dùng trên đảo chủ yếu đem từ đất liền ra. Trước 1965, trên đảo có 22 ha đất lúa, cao lương, dưa hấu, bí đỏ, bí đao, v.v nhưng sản lượng thấp: lúa dưới 2 tấn/ha/năm, cao lương 0,75 tấn/ha/năm, dưa hấu 0,7 tấn/ha/năm. Hiện nay, tổng diện tích rau quả đạt 8.500 m2, thu hoạch hàng năm đạt hơn 100 triệu đồng, đáp ứng một phần nhu cầu của dân đảo và một phần cho các tầu thuyền ra vào âu cảng. Tổng đội Thanh niên xung phong trong những năm qua đã tự túc được rau xanh và cung cấp thêm cho đảo 1,5 - 2 tấn/tháng.

Các loại cây chắn gió và lấy gỗ như phi lao, keo dậu, mít, xoan, bàng v.v. và gần 1000 cây dừa đã phủ xanh được khoảng 100 ha mặt đảo.

Chăn nuôi chủ yếu đàn gia súc thả rông, khoảng 60 -70 con bò và vài chục con dê. Gia súc thả rông phá hoại cây rừng, thảm thực vật, làm giảm khả năng giữ nước, phân gia súc làm ô nhiễm nguồn nước quí giá của đảo, cần hạn chế và tập trung ở một số khu vực thích hợp. Đàn lợn thường xuyên khoảng 500 - 600 con, nuôi trung chuyển chờ giết mổ là chính, cả năm xuất chuồng đạt 50 tấn thịt. Ngoài ra còn gà, vịt, ngan, ngỗng sản lượng năm đạt khoảng 2 tấn .

Dịch vụ và thương mại

Một số loại hình dịch vụ với qui mô nhỏ như bán hàng tạp hóa, bán lương thực, thực phẩm, giải khát, cắt tóc, gội đầu, hát karaoke, v.v do 8 - 9 hộ kinh doanh tại gia đình. Trước đây còn có 80 hộ dân nơi khác bán hàng bằng thuyền nan trên mặt âu cảng. Ngày cao điểm có tới 120 thuyền nan với 200 lao động hoạt động buôn bán tạp hoá trên mặt âu cảng. Năm 2002, tổng doanh thu của các hộ này trên 2 tỷ đồng tiền hàng. Nghề cơ khí, sửa chữa còn hạn chế, chỉ sửa chữa nhỏ, hàn, thay thế phụ kiện nhỏ (hiện có 3 - 5 hộ với nhân lực, chuyên môn không cao, trang thiết bị nghèo nàn) .

Đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng bến bãi và khu dịch vụ hậu cần nghề cá Bạch Long Vỹ, Công ty Thương mại Dịch vụ xuất nhập khẩu Hải Phòng đã tiếp nhận đưa vào sử dụng. Công ty đã thành lập 'Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Bạch Long Vỹ' đi vào hoạt động từ cuối tháng 3 năm 2003 với Xưởng sản xuất bột cá công xuất 80 tấn/ngày, Xưởng sấy mực công xuất 10 tấn/ngày, Trạm cấp xăng dầu 300 m3, Xưởng sản xuất nước đá 50 tấn/ngày, Xưởng sản xuất nước ngọt từ nước biển 200 m3/ngày, Kho đông lạnh, Xưởng cơ khí, tầu thu mua vận chuyển 200 tấn. Năm đầu còn khó khăn, nhưng Trung tâm đã tạo ra việc làm cho gần 100 lao động. Từ khi cảng, khu neo đậu tầu và khu dịch vụ hậu cần nghề cá nghề cá đi vào hoạt động, tầu thuyền đánh cá đến ngư trường Bạch Long Vỹ tăng lên rất nhanh. Ngoài ra, còn nhiều tầu thu mua, dịch vụ thuỷ sản đến đây kinh doanh buôn bán nhộn nhịp.

Y tế, văn hoá và giáo dục

- Y tế và vệ sinh môi trường: Trung tâm y tế huyện rộng 130 m2, với biên chế 3 bác sĩ, các y cụ khám chữa bệnh thông thường và có sự phối hợp với Bệnh xá Trung đoàn 952 Hải quân. Hàng năm đều phải phục vụ các ca bệnh hiểm nghèo không kịp đưa vào đất liền chữa trị. Công tác vệ sinh phòng bệnh, tiêm chủng mở rộng và kế hoạch hoá gia đình đã được chú trọng. Rác được thu gom và đem đốt thủ công tại hai điểm. Có hai trạm xử lý nước (bể lọc) của khu sản xuất và của khu dân cư và hệ thống cống nối từ khu dân cư trung tâm đến bể lọc.

- Văn hoá: Đã xây dựng - Trạm phát thanh, truyền hình (VTV1, VTV3); sân vận động kết hợp sân bay trực thăng; nhà bia tưởng niệm anh hùng liệt sĩ và công viên tuổi trẻ Sông Hồng. Dự án xây dựng trung tâm văn hoá thể thao đa chức năng với diện tích hơn 7.000 m2 đã được hoàn thành năm 2000.

- Giáo dục và đào tạo: Đảo có 01 trường mẫu giáo và tiểu học gồm 2 nhà 1 tầng, 1 nhà 2 tầng với tổng số 10 phòng học và có đủ giáo viên (05 giáo viên, 45 cháu mẫu giáo và 32 học sinh tiểu học). Học sinh tốt nghiệp tiểu học được chuyển vào học cấp II tại trường nội trú Đồ Sơn và được cấp học bổng. Năm 2001, huyện được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và trên đảo không còn người mù chữ. Thanh niên xung phong đã được tổ chức học nghề với tổng số trên 200 lượt người học, đã cử 6 cán bộ, đội viên đi học các lớp đại học, trung cấp nghiệp vụ.